Góc nhìn toàn diện về cá

 

Bạn có biết là phần lớn cá chúng ta ăn hàng ngày đều nhiễm thủy ngân. Các hoạt động núi lửa, hoạt động công nghiệp (nhiệt điện, luyện thép, xi măng, pin)… xả thải ra không khí và xả thải ra ao ồ, sông, biển…gây nên tình trạng ô nhiễm thủy ngân.

Cá thông qua chuỗi thức ăn đã hấp thụ và tích tụ thủy ngân vào cơ thể, gây nên tình trạng nhiễm thủy ngân.

Tuy nhiên, cá là nguồn cung cấp Omega 3 dồi dào, và là nguồn protein tốt….

Vậy chúng ta có nên ăn cá không? Và nếu ăn thì ăn ở mức độ nào? Loại nào nên tránh, loại nào nên ăn?

Cá quan trọng như thế nào?

Cá là một phần rất quan trọng trong chế độ ăn uống lành mạnh. Cá ít béo là một sự thay thế tốt cho các loại thịt.

Protein trong cá giúp ích cho sức khỏe thể chất và tinh thần. Nó còn chứa nhiều vitamin và khoáng chất; vitamin B-2 và vitamin D giúp chuyển hóa canxi vào xương.

Ngoài ra, cá còn chứa các khoáng chất tăng cường sức khỏe khác bao gồm sắt, kẽm, kali, canxi và selen (là chất khoáng trong cơ thể người với hàm lượng rất nhỏ, nhưng vô cùng quan trọng. Nó là một chất giải độc kỳ diệu chuyên “săn bẫy” các kim loại nặng độc hại rồi thải trừ chúng ra khỏi cơ thể. Người ta cũng chứng minh được Selen đóng vai trò then chốt trong quá trình chống lão hóa cơ thể)

Và cá là nguồn thực phẩm có rất nhiều Omega 3 –rất thiết yếu đối với con người.

8639894315_2d1dd46f5f_k

Các lợi ích sức khỏe của việc ăn cá

Có bằng chứng mạnh mẽ chỉ ra rằng ăn cá hoặc uống dầu cá là tốt cho tim và mạch máu. Một phân tích gồm 20 nghiên cứu với hàng trăm ngàn người tham gia chỉ ra rằng ăn khoảng từ 1 đến 2 khẩu phần cá béo (cá hồi, cá trích, cá thu, cá cơm hoặc cá mòi) giúp giảm 36% nguy cơ tử vong do bệnh tim.

Theo đó, omega-3 trong cá bảo vệ tim chống lại sự phát triển của rối loạn nhịp tim thất thường và có khả năng gây tử vong. Ngoài ra nó còn giúp giảm huyết áp, nhịp tim, cải thiện chức năng mạch máu và làm giảm viêm.

Nó còn đóng vai trò rất quan trọng cho sự phát triển tối ưu của não và hệ thần kinh của trẻ, đồng thời duy trì hoạt động của não ở cả người lớn.

Theo Harvard, ăn cá một hoặc hai lần một tuần cũng có thể làm giảm nguy cơ đột quỵ, trầm cảm, bệnh Alzheimer và các bệnh mãn tính khác.

Những lo ngại về nhiễm độc thủy ngân?

Nhiều người vẫn lo ngại ăn cá bởi hàm lượng thủy ngân và các chất ô nhiễm khác từ nguồn nước xâm nhập vào cá.

Hàm lượng thủy ngân rất cao có thể gây tổn thương thần kinh ở người lớn và làm gián đoạn sự phát triển của não và hệ thần kinh ở thai nhi hoặc trẻ nhỏ.

Tuy nhiên, hầu hết các loại cá nhỏ có mức thủy ngân thấp và người trưởng thành không phải đối mặt với rủi ro sức khỏe từ thủy ngân.

Và nguy cơ sức khỏe bị ảnh hưởng bởi thủy ngân là khi chúng ta ăn một lượng lớn một số loại cá bị nhiễm thủy ngân cao.

Đối với phụ nữ đang hoặc có thể mang thai, cho con bú và trẻ nhỏ là ăn hai khẩu phần cá mỗi tuần hoặc các loại hải sản khác. Tôm, cá thu, cá hồi và cá da trơn là những loại cá có hàm lượng thủy ngân thấp.

Không ăn cá mập, cá kiếm, cá thu vua hoặc cá vược vàng vì chúng chứa hàm lượng thủy ngân cao.

Trên thực tế, cách dễ nhất để tránh lo ngại về chất gây ô nhiễm chỉ đơn giản là ăn nhiều loại cá và hải sản khác nhau và tránh 4 loại cá chứa hàm lượng thủy ngân cao.

Tham khảo: FDA Hoa Kỳ, Harvard

Tags:

Bình luận